Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

    Báo Dân Việt: Bộ Công Thương kiến nghị xử lý cá nhân xuyên tạc về việc tăng giá điện

    Bộ Công Thương vừa có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ, trong đó có giải thích về việc tăng giá điện vừa qua chưa tính chênh lệch tỷ giá, nếu tính thêm chi phí này, giá điện sẽ tăng là 9,26%. Ngoài ra, Bộ này cũng kiến nghị Thủ tướng có các biện pháp chấn chỉnh hoặc xử lý những cá nhân cố tình xuyên tạc, đưa thông tin không đầy đủ, khách quan về đợt điều chỉnh giá điện vừa qua.

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Xã hội, được chúng tôi tổng hợp từ báo Dân Việt, nguồn bài: http://danviet.vn/kinh-te/bo-cong-thuong-kien-nghi-xu-ly-ca-nhan-xuyen-tac-ve-viec-tang-gia-dien-981106.html

    Công tác ghi chỉ số công tơ, chốt chỉ số, tính tiền điện (trong tháng thay đổi giá) được thực hiện theo đúng quy trình kinh doanh. (Ảnh minh họa)

    Trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương cũng kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) tiếp tục chỉ đạo các cơ quan báo chí thực hiện công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc điều chỉnh giá điện; phản ánh chính xác, khách quan, không đưa thông tin trái chiều về giá điện. Đồng thời, có các biện pháp chấn chỉnh hoặc xử lý những cá nhân cố tình xuyên tạc, đưa thông tin không đầy đủ, khách quan về đợt điều chỉnh giá điện vừa qua nhằm kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội.

    3 nguyên nhân kiến hóa đơn tiền điện người dân tăng “sốc”

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh mới đây đã ký báo cáo gửi Chính phủ về phương án tăng giá điện theo Nghị quyết số 30/NQ-CP; xây dựng, ban hành và kiểm tra thực hiện Quyết định số 648/QĐ – BCT về việc điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân và quy định giá bán lẻ điện.

    Theo đó, kết quả kiểm tra tình hình thực hiện Quyết định số 648/QĐ-BCT, kết quả kiểm tra hoat động niêm yết công khai giá điện mới theo Quyết định ssố 648/QĐ-BCT đã được các đơn vị thực hiện đúng quy định tại Điều 6 Luật giá, đảm bảo thông tin về việc điều chỉnh giá điện đến các khách hàng.

    Công tác ghi chỉ số công tơ, chốt chỉ số, tính tiền điện (trong tháng thay đổi giá), cáp giá bán lẻ điện và thanh toán tiền điện cho thấy, các đơn vị đã thực hiện theo đúng quy trình kinh doanh, tuân thủ theo Nghị định số 137/2013/NĐ-CP của Chính phủ về ghi chỉ số công tơ, thanh toán tiền điện.

    Thực tế cho thấy, hóa đơn tiền điện của nhiều khách hàng sinh hoạt trong tháng 4.2019 tăng là do 3 nguyên nhân.

    Đầu tiên, sản lượng điện tiêu thụ của khách hàng tăng do thời tiết nắng nóng, nhiệt độ tăng cao. Thứ hai, tác động của việc điều chỉnh tăng giá điện 8,36%. Thứ ba, kỳ ghi chỉ số công tơ của tháng 4 là 31 ngày, dài hơn 3 ngày so với kỳ ghi chỉ số công tơ của tháng 3.2019.

    Liên quan tới kiểm tra thực tế khách hàng sử dụng điện sản xuất, kinh doanh, kiểm tra thực tế việc chốt chỉ số công tơ, phát hành hóa đơn tiền điện tại một số khách hàng sử dụng điện sản xuất lớn cho thấy: Các tổng công ty điện lực và công ty điện lực đã thực hiện chốt chỉ số công tơ, phát hành hóa đơn tiền điện đúng quy định. Đồng thời, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng đã chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh như: Nghiên cứu thay thế, sử dụng đèn tiết kiệm điện, thay thế các thiết bị tiêu hao nhiều điện…

    Thứ hai, về kiểm tra công tác kinh doanh dịch vụ, giải đáp thắc mắc của khách hàng sử dụng điện: Theo thống kê của EVN từ số liệu phần mềm quản lý chăm sóc khách hàng, từ 20.3 đến 4.5, toàn Tập đoàn đã tiếp nhận và giải quyết hơn 71.500 yêu cầu của khách hàng liên quan đến hóa đơn tiền điện; trong đó có hơn 14.500 kiến nghị thắc mắc về chỉ số công tơ, hóa đơn tiền điện. Kiểm tra cho thấy, các thắc mắc đã được trả lời 100%, các khách hàng đều hài lòng, đồng ý với kết quả.

    Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thống kê chi tiết thực tế sử dụng điện của các khách hàng sinh hoạt trên cả nước để nghiên cứu, đề xuất biểu giá bán lẻ điện phù hợp với đại bộ phận khách hàng sử đụng điện trên cả nước; đồng thời khuyến khích sử dụng điện hiệu quả, tiết kiệm.

    Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng kiến nghị Chính phủ giao Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tăng cường kiểm tra, giám sát các chỉ tiêu tài chính của EVN, thông tin đầy đủ đến các cơ quan báo chí về các chỉ tiêu tài chính, quản lý dòng tiên của EVN theo đúng quy định; khẩn trương tái cơ cấu EVN theo Quyết định số 168/QĐ-TTg, đặc biệt là việc chuyển đổi Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (bao gồm cả chức năng vận hành hệ thống điện và vân hành thị trường điện) thành đơn vị hạch toán độc lâp thuộc EVN…

    Nếu cõng chênh lệch tỷ giá, giá điện sẽ tăng 9,26%

    Đề cập tới giá thành sản xuất điện, Bộ Công Thương cho biết, các yếu tố đầu vào đã khiến chi phí mua điện năm 2019 tăng khoảng 20.000 tỷ đồng. Trong đó, giá than bán cho điện (2 lần tăng từ đầu năm 2019 và giá than trộn nội địa với nhập khẩu) làm chi phí mua điện tăng hơn 7.330 tỷ đồng. Chi phí tăng do giá khí và dầu gần 7.390 tỷ; tỷ giá và chênh lệch tỷ giá hợp đồng mua bán điện khoảng 5.050 tỷ đồng...

    Bộ Công Thương lưu ý, mức tăng giá bán lẻ điện bình quân 8,36% vừa qua chưa gồm chênh lệch tỷ giá mua bán điện dự kiến năm 2018 của các nhà máy điện, hơn 3.260 tỷ đồng. "Nếu bổ sung thêm chi phí này, tổng chênh lệch tỷ giá mua bán điện hơn 7.090 tỷ đồng và khi đó giá bán lẻ điện bình quân 2019 sẽ khoảng 1.879,9 đồng một kWh, tương đương tỷ lệ tăng 9,26%", Bộ Công Thương nêu.

    Sẽ xây dựng biểu giá bán lẻ điện bậc thang mới

    Nói về giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang, Bộ Công Thương giải thích: Điện năng là một hàng hóa đặc biệt, việc sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, việc lưu trữ điện năng rất đắt và tốn kém. Khi huy động các nhà máy điện phát điện, nguyên tắc ngành điện sẽ huy đọng các nhà máy điện có giá rẻ phát trước, nhà máy đắt phát điện sau cho đến khi đáp ứng đủ nhu cầu dùng điện của khách hàng.

    Vì thế, nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc, hay các nước xung quanh như Thái Lan, Malaysia… đều áp dụng giá điện sinh hoạt bậc thang.

    Ở nước ta, trong năm 2018, số hộ dùng điện ở mức 100 số trở xuống là trên 9 triệu hộ, chiếm 35% số hộ dùng điện sinh hoạt. Do vậy, giá bán lẻ điện sinh hoạt cho bậc 1 từ 0-50 số điện và bậc 2 từ 51-100 số điện được tính toán tương ứng chỉ bằng 90% và 93% so với giá bán lẻ điện bình quân. Điều này nhằm hỗ trợ cho các hộ thu nhập thấp. Các bậc thang còn lại giá cao hơn.

    Bộ Công Thương cũng cho hay do đời sống người dân đã cải thiện, nên việc nghiên cứu, xây dựng biểu giá bán lẻ điện bậc thang mới cho các hộ gia đình là cần thiết.

    Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ nghiên cứu đề xuất biểu giá điện mới với mục tiêu giảm bù chéo giữa các hộ tiêu thụ, khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, trong khi vẫn phải đảm bảo các mục tiêu về an sinh xã hội.

    Nguyên Phương

    Tìm kiếm:✨

    • Giá điện, Tập đoàn điện lực việt nam, Bộ công thương, Giá bán lẻ, Điện, Tiền điện, Ngành điện, Biểu giá, Điều chỉnh, Tăng giá, Hóa đơn, Bậc thang, Bán lẻ, Điện lực, Bình quân

    Báo Công Thương: Bộ Công Thương: Minh bạch thông tin về cơ chế giá và kết quả kiểm tra thực hiện điều chỉnh giá điện

    Bộ Công Thương vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về quá trình xây dựng, ban hành và kiểm tra thực hiện Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân và quy định giá bán điện (Quyết định 648/QĐ-BCT).

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Xã hội, được chúng tôi tổng hợp từ báo Công Thương, nguồn bài: https://congthuong.vn/bo-cong-thuong-minh-bach-thong-tin-ve-co-che-gia-va-ket-qua-kiem-tra-thuc-hien-dieu-chinh-gia-dien-119853.html

    Kiểm tra, ghi chỉ số công tơ cho khách hàng

    Thực hiện nghiêm quy định pháp luật

    Quá trình xây dựng điều chỉnh giá bán điện bình quân đã được Bộ Công Thương căn cứ vào Luật Điện lực, Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; Quyết định số 34/2017/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn 2016-2020.

    Cụ thể, Luật Điện lực ngày 03/12/2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực ngày 20/11/2012 qui định giá điện được lập trên cơ sở chi phí sản xuất, kinh doanh điện và lợi nhuận hợp lý và báo cáo tài chính được kiểm toán hàng năm của đơn vị điện lực. Giá bán lẻ điện do đơn vị bán lẻ điện xây dựng theo khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ qui định.

    Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg ngày 30/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân qui định hàng năm, sau khi kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), giá bán điện bình quân được xem xét điều chỉnh theo biến động khách quan thông số đầu vào của tất cả các khâu (phát điện, truyền tải điện, phân phối-bán lẻ điện, điều hành-quản lý ngành và dịch vụ phụ trợ hệ thống điện).

    Quyết định số 34/2017/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn 2016-2020 theo đó, mức giá bán lẻ điện bình quân giai đoạn 2016-2020 được qui định tối thiểu là 1.606,19 đồng/kWh, tối đa là 1.906,42 đồng/kWh.

    Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo các mục tiêu vĩ mô của Chính phủ, hài hòa lợi ích của người dân, doanh nghiệp và doanh nghiệp ngành điện, Bộ Công Thương cũng bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo điều hành giá để phối hợp các bên liên quan xây dựng phương án giá bán lẻ điện bình quân năm 2019, báo cáo Thủ tướng xem xét quyết định.

    Theo Bộ Công Thương, giá điện được tính dựa trên các thông số đầu vào như sản lượng điện thương phẩm toàn hệ thống năm 2019; việc điều chỉnh tăng giá than, khí bán cho sản xuất điện; điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường đối với than, dầu kể từ ngày 01/01/ 2019 theo Nghị quyết 579/2018/UBTVQH14 ngày 26/9/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế bảo vệ môi trường; phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá thực hiện hợp đồng mua bán điện năm 2015 và toàn bộ chênh lệch tỷ giá thực hiện hợp đồng mua bán điện năm 2017 của các nhà máy điện vào năm 2019; giá của các nhiên liệu đầu vào khác như: Giá dầu thế giới (HSFO) để tính giá khí thị trường, giá than nhập khẩu dự báo cho năm 2019 được tính theo dự báo của Ngân hàng thế giới. Và tỷ giá dự báo cho năm 2019 của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam công bố.

    Tổng hợp ảnh hưởng của một số yếu tố đầu vào và một số yếu tố khác đã làm tăng chi phí mua điện năm 2019 khoảng 20.000 tỷ đồng. Với các thông số đầu vào chính nêu trên, giá điện bình quân năm 2019 là 1.864,44 đồng/kWh, tương ứng tỷ lệ tăng giá so với giá bán lẻ điện bình quân hiện hành là 8,36%. Mức giá này chưa bao gồm khoản chênh lệch tỷ giá thực hiện hợp đồng mua bán điện dự kiến năm 2018 của các nhà máy điện (khoảng 3.266 tỷ đồng) vào năm 2019.

    Trên thực tế, nếu bổ sung thêm chi phí này, tổng chênh lệch tỷ giá thực hiện hợp đồng mua bán điện là 7.090,8 tỷ đồng, khi đó giá bán lẻ điện bình quân năm 2019 sẽ là khoảng 1.879,90 đồng/kWh, tương ứng tỷ lệ tăng giá là 9,26%.

    Như vậy có thể khẳng định, việc điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân năm 2019 đã giảm đi so với thực tế thị trường, đã được nghiên cứu kỹ trên cơ sở đánh giá tác động đến các chỉ số vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.

    Đoàn kiểm tra của Bộ Công Thương làm việc với Tổng công ty Điện lực Tp. Hồ Chí Minh

    Chủ động kiểm tra, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng

    Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương, mặc dù thực hiện tốt quy định nhưng sau khi có thông tin phản ánh của người dân về việc hóa đơn tiền điện tăng cao, Bộ Công Thương đã chủ động thành lập đoàn công tác với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức để kiểm tra, làm rõ việc thực hiện Quyết định điều chỉnh giá điện, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng sử dụng điện.

    Qua kiểm tra thực tế cho thấy, hóa đơn tiền điện của nhiều khách hàng sinh hoạt trong tháng 4/2019 tăng là do 3 nguyên nhân: (1) Sản lượng điện tiêu thụ của khách hàng tăng do thời tiết nắng nóng, nhiệt độ tăng cao; (2) Tác động của việc điều chỉnh tăng giá điện 8,36%; (3) Kỳ ghi chỉ số công tơ của tháng 4 là 31 ngày, dài hơn 3 ngày so với kỳ ghi chỉ số công tơ của tháng 3/2019.

    Số liệu thống kê sản lượng điện thương phẩm theo các đối tượng phụ tải của 5 Tổng Công ty Điện lực cho thấy, tổng điện năng thương phẩm tháng 4 năm 2019 tăng 10,26% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 14,23% so với tháng 3 năm 2018, trong đó phụ tải quản lý, tiêu dùng (bao gồm sinh hoạt) tăng 14,15% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 21,03% so với tháng 3 năm 2019.

    Cũng theo số liệu thống kê của EVN từ phần mềm Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (CMIS), trong tháng 4/2019 số lượng khách hàng sinh hoạt có mức tiêu thụ điện dưới 100 kWh và dưới 200 kWh vẫn chiếm tỷ lệ lớn so với tổng số khách hàng sử dụng điện sinh hoạt trên toàn hệ thống. Cụ thể hộ có mức sử dụng điện sinh hoạt dưới 100 kWh chiếm 31,68%, hộ có mức sử dụng điện sinh hoạt dưới 200 kWh chiếm 68,15%.

    Các Tổng công ty/công ty điện lực thuộc EVN đã nghiêm túc thực hiện Quyết định số 648/QĐ-BCT và tuân thủ các quy định khác của Nhà nước. Cụ thể đã làm tốt công tác niêm yết công khai giá, công tác ghi chỉ số công tơ, công tác chốt chỉ số, tính tiền điện, thanh toán tiền điện (Nghị định số 137/2013/NĐ-CP, Thông tư số 16/2014/TT-BCT); công tác tuyên truyền; công tác kinh doanh dịch vụ, giải đáp thắc mắc của khách hàng sử dụng điện...

    Theo thống kê của EVN từ số liệu phần mềm quản lý chăm sóc khách hàng, từ ngày 20/3/2019 đến ngày 04/5/2019, toàn Tập đoàn tiếp nhận và giải đáp 71.504 yêu cầu của khách hàng liên quan đến hóa đơn tiền điện. Trong đó có 14.541 kiến nghị của khách hàng, chiếm tỷ lệ gần 20% thắc mắc về chỉ số công tơ điện, hóa đơn tiền điện. Các thắc mắc của khách hàng đã được trả lời 100%, và hài lòng, đồng ý với kết quả giải quyết.

    Đặc biệt, trong thời gian trên, chỉ có 11 bài báo trên các báo mạng và báo in, 8 trường hợp đăng trên Facebook nêu thắc mắc, phản ánh của khách hàng có địa chỉ cụ thể. Các thắc mắc, phản ánh của khách hàng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, truyền hình, báo đài đã được đơn vị chủ động liên hệ xử lý, giải thích cặn kẽ, các trường hợp khách hàng thắc mắc đã đồng ý với cách giải quyết của đơn vị.

    Kiểm tra việc niêm yết giá điện tại đơn vị Điện lực

    Tăng cường quản lý, giám sát

    Trong thời gian tới Bộ Công Thương sẽ tiếp tục thực hiện đôn đốc các đơn vị thực hiện Quyết định số 648/QĐ-BCT ngày 20 tháng 3 năm 2019 về việc điều chỉnh mức giá bản lẻ điện bình quân và quy định giá bán điện.

    Cụ thể, sẽ phối hợp với Bộ, nghành liên quan cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho các cơ quan thông tấn báo chí; Chỉ đạo EVN nghiên cứu, đề xuất biểu giá bán lẻ điện phù hợp với đại bộ phận khách hàng; đồng thời khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trong khi vẫn phải đảm bảo các mục tiêu về an sinh xã hội; Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các đơn vị liên quan, chỉ đạo EVN đánh giá tác động gián tiếp của việc điều chỉnh giá điện đến kinh doanh, sản xuất của các khách hàng ngoài sinh hoạt và đời sống nhân dân.

    Bộ cũng sẽ chỉ đạo EVN khắc phục một số thiếu sót; nghiên cứu thay đổi thiết kế của hóa đơn tiền điện cho khách hàng sinh hoạt để khách hàng dễ theo dõi kiểm tra, đặc biệt trong tháng có thay đổi giá điện phải áp dụng phương pháp nội suy. Bên cạnh đó triển khai thực hiện lộ trình thay thế công tơ cơ bằng công tơ điện tử cho khách hàng sinh hoạt theo kế hoạch đã được Bộ Công Thương phê duyệt.

    Tuy nhiên, Bộ Công Thương cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục chỉ đạo các cơ quan báo chí thực hiện công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc điều chỉnh giá điện; phản ánh chính xác, khách quan; Có biện pháp chấn chỉnh hoặc xử lý những cá nhân cố tình xuyên tạc, đưa thông tin không đầy đủ, khách quan về đợt điều chỉnh giá điện vừa qua nhằm kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội.

    Đề nghị Thủ tướng giao Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tăng cường kiểm tra, giám sát các chỉ tiêu tài chính của EVN, thông tin đầy đủ đến các cơ quan báo chí về các chỉ tiêu tài chính, quản lý dòng tiền của EVN theo đúng qui định hiện hành; Khẩn trương thực hiện tái cơ cấu EVN theo kế hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt.

    Bộ Công Thương với chức năng quản lý nhà nước về ngành điện sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu biểu giá điện bậc thang đối với các kách hàng điện sinh hoạt hướng tới mục tiêu giảm bù chéo giữa các hộ tiêu thụ; tiếp tục chương trình khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả; tiếp tục đẩy mạnh tiến độ xây dựng và phát triển thị trường điện với mục tiêu vận hành thị trường bán lẻ cạnh tranh vào năm 2021 góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội bền vững, phù hợp với tiến trình hội nhập của đất nước.

    Nguyên Vũ

    Tìm kiếm:✨

    • Giá điện, Biểu giá, Tiền điện, Bậc thang, Bộ công thương, Ngành điện, Tập đoàn điện lực việt nam, Giá bán lẻ, Hóa đơn, Điện, Điện lực, Tăng giá, Bình quân, Bán lẻ, Sinh hoạt

    Báo Đại Đoàn Kết: Người Đức quay lưng với xe hơi?

    Ở Đức - đất nước mà người dân rất yêu quý xe hơi - biến đổi khí hậu đang dần trở thành một vấn đề quan tâm hàng đầu và cũng gây chia rẽ trong cộng đồng cử tri trước kỳ bầu cử Nghị viện châu Âu. Kết quả thăm dò do Hãng Deustchland Trend công bố mới đây cho thấy 48% người dân Đức coi biến đổi khí hậu là vấn đề lớn nhất.

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Công nghệ , được chúng tôi tổng hợp từ báo Đại Đoàn Kết, nguồn bài: http://daidoanket.vn/quoc-te/nguoi-duc-quay-lung-voi-xe-hoi-tintuc437287

    Nhân công làm việc trong xưởng chế tạo xe của Volkswagen. Nguồn: AP.

    Vấn đề gây chia rẽ

    Hiện nay ở Đức có 2 luồng ý kiến trái chiều, một bên là những cử tri trẻ tuổi sinh sống ở đô thị, và họ yêu cầu chính quyền cần giúp Đức trở thành một đất nước phi carbon. Trong khi bên còn lại là những cử tri lớn tuổi sống ở vùng nông thôn, những người vẫn muốn dựa vào nền kinh tế chế tạo xe hơi và than đá là nguồn năng lượng chính.

    “Những người trẻ tuổi đang hứng thú hơn với số hóa” - Ferdinand Dudenhofer, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu xe hơi ở Duisburg-Essen, cho hay - “Giờ họ muốn được tặng một mẫu iPhone mới nhất hơn là một chiếc xe hơi”.

    Nước Đức vốn đã cam kết sẽ giảm lượng khí carbon tới 40% vào năm tới - so với mức phát thải năm 1990 - và giảm 55% vào năm 2030, và tới 95% vào năm 2050. Hiện chưa rõ liệu đất nước này có thể đạt được những mục tiêu đầy tham vọng đó hay không.

    Sản xuất năng lượng hiện là nguyên nhân chủ yếu gây ra lượng phát thải ở Đức, và quốc gia này đã cam kết sẽ dẹp bỏ các nhà máy điện chạy bằng than đá và thay thế toàn bộ chúng bằng các nguồn năng lượng tái sinh vào năm 2038. Tuy nhiên, giao thông cũng chính là một nguyên nhân lớn nhất gây phát thải. Nhưng khiến người Đức từ bỏ xe hơi lại là một vấn đề cực kỳ khó khăn, cả trong văn hóa và chính trị.

    Không nghi ngờ gì khi nói rằng xe hơi có một vị trí đặc biệt ở nước Đức. Là nơi có các hãng xe nổi tiếng như Volkswagen, BMW và Daimler-Benz, đất nước này sản xuất khoảng 5,5 triệu chiếc xe trong năm 2017 - theo Cơ quan Đầu tư và Thương mại Đức.

    Ngành chế tạo xe ở Đức tạo ra công ăn việc làm cho hơn 820.000 lao động và đóng góp tới 20% giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc gia. Ở Đức, những con đường cao tốc không bị hạn chế tốc độ - gọi là autobahn - được xem là thiên đường cho những tài xế yêu thích xe hơi và tốc độ.

    Ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu

    Tuy nhiên, ngành công nghiệp này đang chịu ảnh hưởng lớn, một phần vì các phong trào kêu gọi hành động ứng phó biến đổi khí hậu và một phần vì vụ “Dieselgate” – vụ bê bối khí thải năm 2015 trong đó Volkswagen cùng nhiều hãng khác bị phát hiện không tuân thủ các quy định về ô nhiễm từ dầu diesel. Năm ngoái, lượng xe hơi bán ra của nước này giảm mạnh, được cho là nguyên nhân khiến GDP của họ bị giảm.

    “Nhiều người dân Đức giờ nhận ra rằng biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất. Trong lúc cả thế giới tìm cách giảm khí thải ra môi trường, các hãng chế tạo xe buộc phải thay đổi các mẫu xe cũ” - ông Dudenhofer nói - “Các hãng như Mercedes và BMW không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải chế tạo các mẫu xe chạy hoàn toàn bằng điện năng”.

    Trong Kế hoạch hành động ứng phó biến đối khí hậu 2015 của Đức, Chính phủ nước này cam kết giảm tới 95 tấn khí thải phát ra từ hoạt động giao thông vào năm 2030. Nhưng kế hoạch này không đặt ra hạn chót để các loại xe hiện hành ở Đức không được phát thải.

    Một cuộc thăm dò tổ chức hồi đầu tháng này bởi Kênh truyền hình ARD của Đức cho thấy, 81% số người tham gia thăm dò nói rằng Chính phủ cần có hành động khẩn cấp để giảm khí thải, nhưng chỉ có dưới 34% ủng hộ các đề xuất mà giới chính trị gia đưa ra - trong đó có kế hoạch đánh thuế carbon.

    Và không phải tất cả người dân Đức đều coi biến đổi khí hậu là một vấn đề. Đảng cực hữu AfD của nước này trong chiến dịch tranh cử Nghị viện châu Âu của mình còn nói rằng, họ muốn trở thành đảng “cứu dầu diesel”, chứ không phải khí hậu. Một số thành viên đảng này còn chỉ trích các nhà hoạt động vì môi trường.

    Linh Chi

    Tìm kiếm:✨

    • Volkswagen, Khí thải, Nghị viện, Các-bon, Vụ bê bối, Chế tạo, Thải ra, Giảm mạnh, Ô tô, Mẫu xe, AFD, Thương mại Đức, Năng lượng tái sinh, Autobahn, Cam kết

    Báo VietTimes: Luật Giáo dục (sửa đổi), Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia lên bàn nghị sự

    Sáng nay (20/5), Quốc hội khai mạc kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, dự kiến làm việc trong 20 ngày và sẽ bế mạc vào ngày 14/6 tới. Đây là kỳ họp giữa năm, nên theo thông lệ, Quốc hội chủ yếu tập trung phần lớn thời gian cho công tác xây dựng pháp luật.

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Kinh tế, được chúng tôi tổng hợp từ báo VietTimes, nguồn bài: http://viettimes.vn/luat-giao-duc-sua-doi-luat-phong-chong-tac-hai-cua-ruou-bia-len-ban-nghi-su-353940.html

    Quốc hội dành thời gian 12/20 ngày để thông qua 7 dự án luật và 2 nghị quyết, cho ý kiến về 9 dự án luật khác

    Kỳ họp thứ 7, Quốc hội chủ yếu tập trung phần lớn thời gian cho công tác xây dựng pháp luật để thông qua 7 dự án luật. Đáng chú ý là Luật Giáo dục (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công; Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia… cho ý kiến 2 Nghị quyết và 9 dự án Luật khác.

    Bên cạnh đó, Quốc hội cũng sẽ dành thời gian cho việc xem xét, quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác. Trong đó có 2,5 ngày dành cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội.

    Về hoạt động giám sát tối cao, Quốc hội sẽ xem xét báo cáo giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018. Điểm đáng chú ý là tại kỳ họp này sẽ có đổi mới trong việc báo cáo kết quả giám sát trước Quốc hội bằng hình ảnh, góp phần chuyển tải sinh động về kết quả giám sát chuyên đề.

    Quốc hội cũng sẽ xem xét các báo cáo về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2018; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm 2019.

    Đặc biệt, kỳ họp lần này, Quốc hội sẽ ứng dụng phần mềm điện tử để cung cấp tài liệu, thông tin cho các đại biểu một cách thuận lợi nhất. Đại biểu chỉ cần một cái máy điện thoại thông minh là có thể tiếp nhận được thông tin. Do kỳ họp này mới được thử nghiệm, nên vẫn chưa bỏ việc cung cấp thông tin, tài liệu bản giấy.

    Sau kỳ họp, đại biểu sẽ đánh giá và kiến nghị cần hoàn thiện như thế nào, từ đó sẽ có sự điều chỉnh trong kỳ họp sau. Đây là một trong những giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện Quốc hội điện tử.

    Anh Lê

    Tìm kiếm:✨

    • XIV, Dự án luật, Kỳ họp, Sửa đổi, Chất vấn, Thực hiện kế hoạch, Ngân sách nhà nước, Luật đầu tư, Quốc hội, Năm 2019, Luật, Năm 2018, Chuyên đề, Đại biểu quốc hội, Năm 2013

    Báo ANTĐ: Bộ Công Thương báo cáo gì với Thủ tướng Chính phủ về việc tăng giá điện?

    Bộ Công Thương cho biết, trong đợt điều chỉnh giá điện ngày 20-3, mỗi kWh điện bình quân mới điều chỉnh chưa tính cả khoản chênh lệch tỷ giá hơn 3.260 tỷ đồng từ mua bán điện của các nhà máy.

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Xã hội, được chúng tôi tổng hợp từ báo ANTĐ, nguồn bài: http://anninhthudo.vn/kinh-doanh/bo-cong-thuong-bao-cao-gi-voi-thu-tuong-chinh-phu-ve-viec-tang-gia-dien/811094.antd

    Việc tăng giá điện tại các công ty điện lực được thực hiện đúng quy trình

    Theo báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ giải trình về việc tăng giá bán lẻ điện bình quân 8,36% ngày 20-3 của Bộ Công Thương, Bộ này khẳng định có đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh giá điện vừa qua.

    Kết quả kiểm tra, rà soát việc tăng giá điện tại một số đơn vị điện lực cho thấy, các đơn vị đã thực hiện đúng quy trình kinh doanh, tuân thủ theo Nghị định số 137/2013/NĐ-CP của Chính phủ về ghi chỉ số công tơ, thanh toán tiền điện…

    Liên quan đến giá thành sản xuất điện, Bộ Công Thương cho biết, các yếu tố đầu vào đã khiến chi phí mua điện năm 2019 tăng khoảng 20.000 tỷ đồng. Trong đó, giá than bán cho điện (2 lần tăng từ đầu năm 2019 và giá than trộn nội địa với nhập khẩu) làm chi phí mua điện tăng hơn 7.330 tỷ đồng. Chi phí tăng do giá khí và dầu gần 7.390 tỷ; tỷ giá và chênh lệch tỷ giá hợp đồng mua bán điện khoảng 5.050 tỷ đồng...

    Đáng chú ý, mức tăng giá bán lẻ điện bình quân 8,36% vừa qua chưa gồm chênh lệch tỷ giá mua bán điện dự kiến năm 2018 của các nhà máy điện, hơn 3.260 tỷ đồng.

    "Nếu bổ sung thêm chi phí này, tổng chênh lệch tỷ giá mua bán điện hơn 7.090 tỷ đồng và khi đó giá bán lẻ điện bình quân 2019 sẽ khoảng 1.879,9 đồng một kWh, tương đương tỷ lệ tăng 9,26%"- Bộ Công Thương thông tin.

    Về biểu giá điện bậc thang, Bộ Công Thương cho hay, cách tính này nhằm khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và vẫn phù hợp với đông đảo người sử dụng điện hiện nay tại Việt Nam.

    Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines và một số bang của Mỹ cũng áp dụng cách tính giá điện bậc thang.

    Ở nước ta, do đời sống người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu điện sinh hoạt tăng cao, việc lắp đặt công tơ điện tử thay cho cộng tơ cơ khí cho hộ sinh hoạt ngày càng nhiều nên việc nghiên cứu, xây dựng biểu giá điện bậc thang mới cho hộ gia đình là cần thiết.

    “Vì vậy, thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ nghiên cứu, đề xuất biểu giá điện mới với mục tiêu giảm bù chéo giữa các hộ tiêu thụ, khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trong khi vẫn đảm bảo các mục tiêu về an sinh xã hội”- báo cáo nêu.

    Theo Bộ Công Thương, việc hóa đơn tiền điện tăng cao trong tháng 4 vừa qua do nhiều nguyên nhân. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã tiếp nhận và giải đáp 71.504 yêu cầu của khách hàng liên quan đến hóa đơn tiền điện, trong đó có 14.541 kiến nghị của khách hàng, chiếm gần 20% thắc mắc về chỉ số công tơ điện, hóa đơn tiền điện.

    Bộ Công Thương đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông(TT-TT) có biện pháp chấn chỉnh hoặc xử lý những cá nhân cố tình xuyên tạc, đưa tin không đầy đủ, khách quan về đợt điều chỉnh giá điện vừa qua nhằm kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh vừa có văn bảo gửi EVN, yêu cầu Tập đoàn này đẩy mạnh công tác công khai, minh bạch thông tin về giá điện.

    Cụ thể, EVN cần triển khai tốt công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác cho các cơ quan thông tấn báo chí về việc điều chỉnh giá bán điện ngày 20-3;

    Kiểm tra, rà soát và giải đáp kịp thời, chi tiết các thắc mắc, phản ánh của khách hàng sử dụng điện liên quan đến việc áp giá, thu tiền điện… và các thông tin phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, truyền hình và mạng xã hội

    “Trường hợp phát hiện có sai sót phải kịp thời thực hiện truy thu thoái hoàn tiền điện cho khách hàng theo đúng quy định hiện hành. Thông báo công khai kết quả làm việc với khách hàng trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài”- văn bản nhấn mạnh.

    Bộ Công Thương cũng yêu cầu EVN định kỳ hàng tháng báo cáo kết quả thực hiện với Bộ Công Thương.

    Hà Linh

    Tìm kiếm:✨

    • Giá điện, Tiền điện, Điện lực, Tập đoàn điện lực việt nam, Công ty điện lực, Công tơ, Hóa đơn, Chỉ số, Điện, Bộ công thương, Tăng giá, Giá bán lẻ, Tháng 4, Thắc mắc, Giải đáp

    Báo ANTĐ: 'Bóng ma' trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997

    Gần 22 năm (1997-2019) cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước trong khu vực châu Á đi qua, nền kinh tế của nhiều nước đã được phục hồi, nhưng nghiên cứu nguyên nhân khủng hoảng cho phép rút ra những bài học quý báu về quản lý kinh tế.

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Tài chính, được chúng tôi tổng hợp từ báo ANTĐ, nguồn bài: http://anninhthudo.vn/the-gioi/bong-ma-trong-cuoc-khung-hoang-tai-chinh-chau-a-1997/811010.antd

    Diễn biến cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á

    Năm 1997, đánh dấu một năm đầy biến động trên thị trường tài chính - tiền tệ thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á và sau đó là Đông Bắc Á với những cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ nghiêm trọng bắt đầu từ Thái Lan, sau đó lan sang các nước ASEAN khác rồi tới Hàn Quốc và Nhật Bản.

    Cuộc khủng hoảng mang tính khu vực này đã được Chính phủ mỗi nước, các tổ chức quốc tế đứng đầu là IMF, các quốc gia có nền kinh tế mạnh trên thế giới phối hợp ngăn chặn, song thực tế đã cho thấy đã lan rộng sang các khu vực khác và trên phạm vi mang tính toàn cầu.

    Các công ty, các ngân hàng và các chính phủ châu Á năm 1997 đã quá phụ thuộc vào đồng USD

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tiền tệ là từ Thái Lan (7/1997). Và chỉ trong một thời gian ngắn từ tháng 12-1996 đến tháng 12-1997 đồng Baht Thái Lan đã bị giảm giá 108% từ chỗ 25 Baht ăn 1 USD xuống còn 54 Baht ăn 1 USD.

    Tốc độ mất giá tương tự như vậy diễn ra ở Malaysia, Philippines, Hàn Quốc và đặc biệt ở Indonesia đồng tiền bị mất giá đến 3,5 lần, đồng Yên Nhật Bản cũng mất giá 23%.

    Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

    Các nguyên nhân của cuộc khủng khoảng đã gây nhiều tranh luận lúc đó và chúng vẫn còn được tranh luận đến ngày hôm nay. Các nhà quan sát phương Tây đổ lỗi cho sự thiếu minh bạch và quan hệ quá mật thiết giữa các doanh nghiệp và các chính phủ châu Á - cái mà họ gọi là “tư bản thân hữu”. Trong khi, những nhà bình luận châu Á, lại phê phán các quỹ đầu tư mạo hiểm vì đã gây mất ổn định các thị trường tài chính khu vực và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vì đã kê một "đơn thuốc" vốn chút nữa đã giết chết bệnh nhân.

    Cả hai góc nhìn đều có ý đúng, song tựu trung lại có thể khẳng định những nguyên nhân cơ bản sau:

    Thứ nhất, nền kinh tế phát triển thiên lệch, mất cân đối, với những biểu hiện:

    (1) Tập trung quá mạnh đầu tư cho xuất khẩu, lấy đó làm động lực tăng trưởng kinh tế, nhưng khi thị trường thế giới gặp khó khăn trong cạnh tranh, xuất khẩu giảm đã tác động lớn đến nền kinh tế và sản xuất trong nước.

    (2) Chính sách xuất khẩu theo hướng độc canh, tập trung quá cao vào một vài mặt hàng (hàng điện tử chiếm 21,2%, tổng kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan, của Malaysia 49,2% và của Philippines 43,5%) và công nghệ chậm được đổi mới đã làm mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, tốc độ tăng xuất khẩu giảm dần và nhập khẩu tăng lên, kết quả là thâm hụt tài khoản vãng lai tăng cao (năm 1996 thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan là 8,5% so với GDP, Philippines là 13%, trong khi đó mức thâm hụt cho phép chỉ là 5% GDP).

    Đề bù đắp ngoại tệ thiếu hụt, các nước đã phải bổ sung bằng vay nợ, mà phần lớn là vay ngắn hạn với nhiều điều kiện không thuận lợi và lãi suất cao. Riêng ở Thái Lan số vay ngắn hạn chiếm 45% tổng số nợ nước ngoài.

    (3) Nợ nước ngoài lớn, trong khi đó nguồn dự trữ ngoại tệ không đủ lực để can thiệp vào tình hình tài chính tiền tệ quốc gia. Đáng lo ngại, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao, ví dụ ở Thái Lan nợ ngắn hạn chiếm 45% tổng nợ, trong khi đó cũng ở Thái Lan dự trữ ngoại tệ liên tục giảm từ 31,6% so với GDP năm 1994 xuống 29,5% băn 1995 và năm 1996 xuống còn 26,6% so với GDP.

    Ở Hàn Quốc, tình trạng nợ còn trầm trọng hơn, tổng nợ nước ngoài năm 1998 của Hàn Quốc lên đến 110 tỷ USD, trong đó nợ ngắn hạn đến 80 tỷ USD.

    (4) Mất cân đối trong cơ cấu đầu tư, thiên lệch vào lĩnh vực kết cầu hạ tầng, mà chưa chú ý đàu tư đúng mức vào lĩnh vực để tăng thêm năng lực sản xuất. Thêm vào đó trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lại đầu tư quá lớn vào thị trường bất động sản và kinh doanh địa ốc chủ yếu bằng nguồn vốn vay nước ngoài ngắn hạn.

    Chính vì vậy, khi giá bất động sản giảm sút mạnh, thì hoạt động kinh doanh trong lợi nhuận này bị thua lỗ. Cũng có trường hợp như Hàn Quốc thì nguyên nhân chính của khủng hoảng lại là đầu tư quá nhiều vào một số ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, hàng điện tử, máy vi tính...

    Theo đó, chính sách phát triển này nhắm trước hết là giành thị phần sau đó mới tính đến lỗ, lãi. Nhưng khi cung vượt quá cầu trên thị trường thế giới thì các ngành công nghiệp này bị thua thiệt và lỗ vốn.

    (5) Mất cân đối giữa các loại hình đầu tư quốc tế: Đầu tư FDI chỉ chiếm 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài, 80% còn lại các chủ đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư gián tiếp, ngắn hạn thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Nên khi có dấu hiệu suy thoái kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài đầu cơ, bán tháo chứng khoán và chuyển đổi thành ngoại tệ làm cho đồng nội tệ bị sụt giá đột ngột và nhanh chóng.

    (6) Hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác phát triển quá nhanh và hoạt động kém hiệu quả. Việc quản lý của nhà nước đối với khu vực này rất yếu kém, chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại thấp, nhất là những mạo hiểm trong việc sử dụng các nguồn vốn vay ngắn hạn để cho vay đầu tư trung và dài hạn làm tăng rủi ro làm cho các khoản nợ khó đòi của nhiều ngân hàng thương mại tăng quá mức cho phép. Tổng số nợ khó đòi so với GDP ở Thái Lan là 20%, ở Malaysia là 23%, ở Indonesia là 11% và Philippines là 8%.

    Đồng Rupiah của Indonesia

    Thứ hai, chính sách tài chính - tiền tệ không hợp lý, cụ thể: (1) Chính sách tỷ giá đối hoái được duy trì cứng nhắc, gần như cố định và phụ thuộc quá nhiều vào đồng USD. (2) Chính sách tự do hóa quản lý ngoại hối của các nước Đông Nam Á, trong khi thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái ít được kiểm soát và phát triển không đồng bộ, điển hình là Thái Lan.

    Thứ ba, những bất ổn về chính trị - xã hội cũng là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính như ở Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc.

    Thứ tư, đầu cơ ngoại tệ cũng góp phần làm cho cuộc khủng hoảng tài chính thêm trầm trọng.

    Những thay đổi sau gần 22 năm

    Đầu tiên, các nước gặp khủng hoảng đã hạ mức đầu tư và kỳ vọng tăng trưởng xuống mức có thể duy trì được. Các chính phủ châu Á vẫn nhấn mạnh tăng trưởng, nhưng không phải là làm điều đó bằng mọi giá.

    Thứ hai, các nước Đông Nam Á giờ đây đã có tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn. Các chính phủ trong khu vực ít nhất đã từ bỏ việc "bám chặt" vào đồng USD, căn nguyên của sự dễ tổn thương năm 1997.

    Nền kinh tế châu Á hiện đã tốt hơn nhiều so với giai đoạn khủng hoảng kinh tế 1997 - 98.

    Thứ ba, các nước như Thái Lan lúc đó đang có thâm hụt thương mại lớn, làm tăng phụ thuộc vào nguồn tài chính nước ngoài, nhưng giờ đây đang có thặng dư. Thặng dư thương mại đã giúp họ tăng dự trữ ngoại hối, thứ có tác dụng như một dạng "bảo hiểm".

    Thứ tư, các nước châu Á giờ đang cùng nhau làm việc để bảo vệ khu vực. Năm 2000, khi cuộc khủng hoảng kết thúc, họ lập ra Sáng kiến Chiang Mai (Thái Lan), một mạng lưới tín dụng tài chính và hoán đổi ngoại hối khu vực. Và bây giờ họ có Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) để khu vực hóa việc cung cấp tài chính phục vụ phát triển hạ tầng.

    Những sáng kiến này có thể được hiểu như một phản ứng với kỷ niệm không vui của châu Á với IMF. Sâu xa hơn, chúng phản ánh sự nổi lên của Trung Quốc. Năm 1997, một Trung Quốc còn chưa chắc chắn về vai trò trong khu vực đã không ủng hộ kế hoạch của người Nhật về một Quỹ Tiền tệ châu Á. Việc không nhận được sự ủng hộ cuối cùng đã chấm dứt số phận của đề xuất đó.

    Sau này, sự tự tin ngày một tăng và vai trò lãnh đạo của Trung Quốc đã góp phần mở lối cho việc xây dựng thể chế và hợp tác khu vực. Sự thay đổi này, xảy ra trong bối cảnh 22 năm tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc, là thay đổi có tính quan trọng nhất ảnh hưởng đến châu Á kể từ sau cuộc khủng hoảng.

    Nhất Tuệ (Theo Project Syndicate, New York Times)

    Tìm kiếm:✨

    • Khủng hoảng tài chính, Bóng ma, Nợ nước ngoài, Tài khoản vãng lai, AIIB, Thiên lệch, IMF, Dự trữ ngoại tệ, Tỉ giá hối đoái, Tiền tệ, Thâm hụt, Yên Nhật Bản, Đồng Rupiah, Nội tệ, Project Syndicate

    Báo ĐTCK: Lỗ hổng an ninh năng lượng - bài 3: Mối lo '3 không' từ nguồn điện

    Trong 3 năm trở lại đây, đầu tư cho ngành năng lượng, gồm điện - than - dầu khí, suy giảm đã tạo ra khoảng trống, gây áp lực lớn lên an ninh năng lượng của nước ta. Với một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, để thoát 'bẫy thu nhập trung bình', thì an ninh năng lượng phải là trụ cột trong chính sách phát triển, chứ không thể là 'gót chân Asin' của nền kinh tế.

    Bài viết này thuộc danh mục:✅ Kinh tế, được chúng tôi tổng hợp từ báo ĐTCK, nguồn bài: https://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/lo-hong-an-ninh-nang-luong-bai-3-moi-lo-3-khong-tu-nguon-dien-266465.html

    Bài 3: Mối lo “3 không” từ nguồn điện

    Ngành điện đang phải đối diện với thực tế không có dự phòng, không có nguồn điện lớn mới và không dễ nhập khẩu điện.

    Dự phòng… hết nhẵn

    Năm 2018, phụ tải đỉnh của hệ thống điện cả nước ở thời điểm cao nhất vào đầu tháng 7 đạt tới 35.110 MW. Đáng nói là, thời điểm đó, dù công suất các nhà máy điện hiện có trong hệ thống là khoảng 44.500 MW, nhưng công suất khả dụng có thể huy động được chỉ là 35.000 MW.

    Theo ông Thái Phụng Nê, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng (người nhiều năm là Phái viên của Thủ tướng Chính phủ về các công trình điện), thực tế trên là điều đáng lo, bởi như vậy là năm 2018, hệ thống điện đã cạn sạch dự phòng. Sang năm 2019, dù chưa tới cao điểm nắng nóng, phụ tải đỉnh của hệ thống đã vọt lên 35.700 MW vào ngày 24/4, trong khi công suất khả dụng hiện chỉ nhỉnh hơn 37.000 MW.

    Năm 2015, hệ thống điện cả nước có mức dự phòng 15-20%. Điều này có được là nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và các bộ, ngành nhiều năm trước đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các nhà đầu tư đã chủ động xây dựng các nguồn điện lớn, nên có dư dả phòng khi “trái gió, giở trời”.

    “Cũng chính nhờ những nỗ lực trên mà từ năm 2011-2017, ngành điện đã không để xảy ra tình trạng thiếu điện, đảm bảo việc cấp điện cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tới năm 2018 thì không còn dự phòng nữa. Điều này là rõ ràng và hậu quả có thể nhìn thấy, nhưng giải pháp khắc phục lại chưa thấy đề ra”, ông Nê trăn trở.

    Tính toán cân bằng của hệ thống điện năm 2019 cho thấy, công suất hữu dụng có thể đạt 37.000 - 39.000 MW so với công suất đặt của toàn hệ thống đang ở quanh mức 50.000 MW. Nghĩa là, nếu hệ thống phải đối mặt với mức tăng trưởng 10% về phụ tải sử dụng điện như những năm qua, tức là công suất đỉnh của năm 2018 sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 3.500 - 4.000 MW, thì dự phòng của hệ thống điện tiếp tục ở tình trạng không có, gây căng thẳng trong đảm bảo cấp điện.

    Ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm điều độ Hệ thống điện quốc gia (A0) cho hay, năm 2018, hệ thống điện quốc gia vận hành trong tình trạng khó khăn với mức tăng trưởng phụ tải cao. Sự căng thẳng vẫn tiếp diễn trong năm 2019 với nhiều thách thức lớn. Khó khăn đầu tiên được A0 nhắc tới là đảm bảo nhiên liệu cho phát điện. Đây là vấn đề đã diễn ra trong năm 2018, nhưng dự kiến còn kéo dài trong năm 2019 và các năm tiếp theo.

    Năm 2018, miền Nam đã phải đối diện với thiếu hụt nguồn cung điện do sản lượng khí cấp thấp hơn so với kế hoạch gần 450 triệu m3, tương ứng 2,5 tỷ kWh. Việc cấp than trong nước cũng không đáp ứng được nhu cầu sản xuất điện, đặc biệt trong 3 tháng cuối năm. Ðể đảm bảo an ninh cung cấp điện, EVN phải tăng huy động các nhà máy thủy điện, làm giảm mức nước dự trữ để cấp điện cho năm 2019, tương đương 2,56 tỷ kWh.

    Theo dõi thực tế vận hành của A0 cũng cho thấy, nguồn khí trong nước đã giảm mạnh và chưa có nguồn bổ sung. Các tháng cuối năm 2018, nguồn cấp khí Nam Côn Sơn chỉ còn khoảng 16,5 triệu m3/ngày, bằng 75% so với những năm trước. Năm 2019, dù nguồn khí nội được bổ sung bằng mỏ Phong Lan Dại, nhưng các chuyên gia cũng đánh giá là “chưa ổn định và cũng không đủ cho nhu cầu của toàn bộ các nhà máy tua-bin khí”.

    Ngoài khí, than cũng đang đối mặt với khả năng không đủ cho phát điện. “Nếu tình hình cấp than, cấp khí trong thời gian tới không được cải thiện, sẽ gây nhiều khó khăn trong công tác vận hành, đặc biệt là trong mùa khô năm 2019”, ông Cường nói.

    Thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí là 3 nguồn chính hiện nay, chiếm tỷ trọng lần lượt là 34,1%, 38,34% và 15,07% trong tổng công suất đặt nguồn điện cả nước và thực tế đóng góp trong vận hành năm 2018 tương ứng là 37,7%, 41,6% và 18,4%.

    Nhiều dự án nguồn điện “bất động”

    Trong kiến nghị gửi các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ cuối năm 2018, ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam đã thẳng thắn cho rằng, với những kế hoạch phát điện được đặt ra trong Quy hoạch Điện VII điều chỉnh đã được phê duyệt, phải có những giải pháp đột phá mạnh mẽ mới đảm bảo được mục tiêu về công suất nguồn điện cũng như sản lượng điện.

    Trong 4.292,8 MW công suất nguồn điện mới có kế hoạch đưa vào vận hành năm 2019 theo Quyết định 4677/QĐ-BCT, chỉ có 2 nguồn điện quy mô lớn (đều do EVN đầu tư) là Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng (688 MW) và Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 mở rộng (600 MW). Có tới 2.700 MW công suất điện mới đến từ nguồn năng lượng tái tạo, gồm điện mặt trời (1.700 MW), điện gió (137 MW) và thủy điện nhỏ (837 MW). Tuy nhiên, trong tổng số 242 tỷ kWh điện sẽ sản xuất năm 2019, phần đóng góp của các nguồn năng lượng tái tạo chỉ là 3,12 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng… 0,0128%.

    Hàng loạt nguồn điện truyền thống quy mô lớn được lên kế hoạch vận hành trong năm 2019 không thể về đích như Nhiệt điện Long Phú 1 (1.200 MW), Nhiệt điện Sông Hậu 1 (1.200 MW) dù đã vài lần lùi kế hoạch.

    Năm 2020, nhiều dự án lớn cũng không thể về đích theo lời hẹn trong Tổng sơ đồ Điện VII điều chỉnh là Nhiệt điện Công Thanh (600 MW), tổ máy 1 (600 MW) BOT Hải Dương 1, Nhiệt điện Cẩm Phả 3 (2x220 MW)...

    “Năm 2019 - 2020 cần thêm 10.000 MW nguồn điện mới, nhưng thực tế rà soát của EVN cho thấy, chỉ có từ 2.000 - 2.500 MW nguồn điện truyền thống được đưa vào, bên cạnh một số nguồn năng lượng tái tạo”, ông Ngô Sơn Hải, Phó tổng giám đốc EVN cho biết.

    Năm 2021 cũng không có gì sáng sủa khi hàng loạt dự án điện lớn vẫn đang im lìm trên thực địa hay chơi vơi đâu đó. Đó là tổ máy 1 (600 MW) của BOT Nghi Sơn 2, tổ máy 2 (600 MW) của BOT Hải Dương 1, tổ máy 1 (600 MW) của BOT Vũng Áng 2, Tua-bin khí Kiên Giang 1 (750 MW), BOT Duyên Hải 2 (1.200 MW), tổ máy 1 (1.000 MW) của BOT Sông Hậu 2, tổ máy 1 (600 MW) của BOT Long Phú 2... Nhiều dự án do EVN là chủ đầu tư như Thủy điện Hòa Bình mở rộng (240 MW), Nhiệt điện Quảng Trạch 1 (1.200 MW), Thủy điện Ialy mở rộng (360 MW) tới giờ vẫn đợi khởi công.

    Thực tế trong 3 năm trở lại đây, đã có sự dè chừng của các địa phương với nhiệt điện than bởi sợ ô nhiễm, lo người dân phản đối. Tuy nhiên, chuyện hàng loạt dự án điện than khó thi công tại những khu vực không có khả năng làm thủy điện hay nhiệt điện khí cũng khiến miền Nam rơi vào tình trạng hết nhẵn nguồn dự phòng, trong khi đây lại là vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cả nước.

    Việc trông chờ đầu tư nước ngoài trong ngành điện cũng rất khó khăn. Hiện chỉ có 4 nhà máy điện BOT được đưa vào sản xuất, 14 dự án khác vẫn đang đàm phán và hầu hết trong số này chậm tiến độ. Đáng nói, trong 14 dự án BOT đang đàm phán này, có những dự án đã bắt đầu công việc tại Việt Nam cả chục năm.

    Xót xa khi hàng loạt dự án điện lớn không thể triển khai hoặc lúng túng với các vướng mắc hiện nay, ông Nê cho hay, nếu năm 2017, EVN được phép xây dựng Nhà máy Điện Quảng Trạch 1 (1.200 MW), thì cũng không có nghĩa trong 6 tháng hay 1 năm nữa, sẽ vận hành nhà máy và giải quyết được chuyện hết công suất dự phòng như hiện nay.

    “Ít nhất phải mất từ 3,5 - 4 năm, với sự cố gắng, giám sát tiến độ một cách nghiêm túc, thì mới thực hiện được. Với thực tế này, không chỉ giai đoạn 2019 - 2021, thiếu điện trầm trọng sẽ xảy ra, mà còn tiếp diễn trong nhiều năm sau nữa. Thậm chí, nếu không có biện pháp khắc phục nhanh chóng và quyết liệt, chúng ta sẽ đi đến tình trạng như trước đây là cắt điện triền miên”, ông Nê nói.

    Điện nhập khẩu cũng không dễ

    Trong khi các nguồn điện lớn trong nước khó đẩy nhanh tiến độ, nguồn điện nhập khẩu đang được trông chờ để gia tăng nhanh nguồn cung ứng điện. Năm 2018, lượng điện mua từ Trung Quốc là 1,6 tỷ kWh, từ Lào là 1,4 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong 212,9 tỷ kWh điện sản xuất và mua ngoài.

    Cho rằng, điện nhập khẩu là “cơ hội cho Việt Nam”, vì các nước láng giềng có khả năng bán, còn Việt Nam sẽ tiết kiệm thời gian đầu tư, giảm ô nhiễm môi trường, nhưng ông Thái Phụng Nê cũng đặt ra vấn đề “phải chủ động nghiên cứu, tính toán” để mua được.

    “Các nước bán điện theo lợi ích của họ, mình mua điện theo lợi ích của mình. Như vậy, phải thông qua đàm phán và cần phải đàm phán nhanh và phải giải quyết giá hợp lý, chứ cứ khăng khăng theo giá điện của Việt Nam, thì không đàm phán được”, ông Nê nói.

    Đó là chưa kể, nếu đặt kỳ vọng tỷ trọng điện nhập khẩu chiếm 10% hệ thống, thì với công suất đặt gần 50.000 MW hiện nay, hay năm 2025 là 96.000 MW, nhu cầu điện nhập khẩu từ 5.000 - 10.000 MW/năm được xem là thách thức không nhỏ.

    Một chuyên gia tham gia đàm phán mua điện của Trung Quốc cho hay, mức mua khoảng 2 tỷ kWh/năm hiện mang tính chất “họ dư và ta có nhu cầu”, nhưng nếu muốn mua tầm 10 tỷ kWh/năm, phải giải quyết chuyện đầu tư đường truyền tải ở hai bên, đối tác cũng phải đầu tư nguồn đàng hoàng, nên giá điện chắc chắn sẽ khác. “Dù mua được 10 tỷ kWh/năm thì so với sản lượng hơn 200 tỷ kWh/năm hiện nay, điện nhập khẩu vẫn chỉ chiếm con số rất nhỏ”, vị chuyên gia này nói.

    Nhắc đến vấn đề này, ông Nê trầm tư: “Họ có thể bán điện cho ta khi thỏa mãn được giá điện, nhưng nếu có chuyện gì xảy ra, họ cắt điện, ta sẽ ứng phó ra sao với sự thiếu hụt này, nhất là khi nhập ở quy mô lớn. Phải nói thẳng là, không thể chỉ nói nhập khẩu mà không làm. Không thể lấy nguồn điện ở nước ngoài để làm dự phòng của chúng ta. Đối với một số nước thì mình cũng là nước nhỏ”.

    (Còn tiếp)

    Theo Thanh Hươngbaodautu.vn

    Tìm kiếm:✨

    • Tập đoàn điện lực việt nam, Sản xuất điện, Nhiệt điện, Than, Nguồn điện, Tỷ trọng, Điện, Thủy điện, Nguồn cung, Năng lượng tái tạo, Nhập khẩu, Hiệp hội, Năm 2019, Sản lượng, Năng lượng